Bài học lớn nhất từ các vùng hồ ở Việt Nam là cảnh đẹp chỉ mở cửa cho du lịch, còn khách có ở lại và quay lại hay không phụ thuộc vào ba thứ: khoảng cách tới thị trường khách, mức độ tổ chức của dịch vụ và cách quản lý xây dựng ven hồ. Hồ gần đô thị lớn dễ có khách nhưng dễ rơi vào cạnh tranh giá và khách ngày; hồ nhiều đảo ở vùng núi xa có ảnh đẹp nhưng khó giữ khách; hồ trong vườn quốc gia giữ được cảnh nhờ quy định chặt nhưng tăng trưởng chậm. Tà Đùng mang một phần đặc điểm của cả ba nhóm.
Bài này không chấm điểm hay so sánh hơn kém giữa các địa phương. Mỗi vùng hồ có điều kiện riêng, và nhận định dưới đây là những mô thức chung thường được nhắc trong thảo luận về phát triển du lịch hồ ở Việt Nam, không phải đánh giá chính thức. Mục đích là giúp đối tác ở Tà Đùng nhìn thấy những con đường người khác đã đi, để chọn đường của mình có ý thức hơn.
Vì sao các hồ thủy điện có nhiều điểm chung
Phần lớn các hồ lớn ở vùng núi Việt Nam là hồ nhân tạo hình thành khi xây đập thủy điện hoặc thủy lợi. Khi nước dâng, thung lũng cũ ngập, các đỉnh đồi thành đảo, các con suối thành nhánh hồ. Đó là lý do nhiều hồ được ví với vịnh Hạ Long: hồ Thác Bà, hồ Na Hang ở phía Bắc, và hồ Tà Đùng ở Tây Nguyên đều từng được gọi theo cách đó trên báo chí.
Nguồn gốc chung kéo theo những vấn đề chung. Mực nước thay đổi theo vận hành nhà máy và theo mùa, làm cảnh quan và vị trí bến thay đổi trong năm. Quanh hồ thường có nhiều đơn vị cùng quản lý: chính quyền địa phương, đơn vị vận hành hồ chứa, ngành lâm nghiệp nếu có rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng, ngành giao thông với hoạt động trên mặt nước. Cộng đồng sống quanh hồ phần nhiều là người tái định cư khi lòng hồ tích nước hoặc người đến lập nghiệp sau này, mang theo những câu chuyện và sinh kế gắn với hồ.
Một điểm chung nữa là du lịch thường đến sau. Hồ được xây để phát điện, cấp nước, chống lũ; du lịch là chức năng phụ phát sinh khi người ta nhận ra cảnh đẹp. Vì vậy, quy định và quy hoạch du lịch thường đi sau thực tế: người dân và nhà đầu tư nhỏ đã làm trước, rồi chính quyền mới tìm cách đưa vào khuôn khổ. Tà Đùng đang ở đúng giai đoạn đó.
Mô thức đó để lại một dấu vết dễ nhận ra ở nhiều vùng hồ: đất ven hồ tăng giá nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ hình thành dịch vụ. Người mua đất chờ tăng giá thì nhiều, người thật sự xây và vận hành cơ sở phục vụ khách thì ít hơn. Những lô đất đẹp nhất có khi nằm trống nhiều năm, trong khi khách đến vẫn thiếu bến tử tế, thiếu chỗ ăn ngon, thiếu hoạt động. Với đối tác muốn làm du lịch thật, đây vừa là rào cản vì chi phí đất cao, vừa là cơ hội vì khoảng trống dịch vụ vẫn còn rộng.
Hồ gần đô thị lớn: dễ có khách, dễ cạnh tranh giá
Mô thức chung. Hồ Hòa Bình trên sông Đà với khách Hà Nội, hồ Trị An với khách TP.HCM và Đồng Nai là ví dụ về những hồ nằm trong tầm đi cuối tuần, thậm chí đi trong ngày, của một đô thị lớn. Lợi thế là lượng khách tiềm năng lớn và ổn định; khách có thể đi nhiều lần trong năm.
Mặt trái thường gặp. Khi khách đi trong ngày chiếm phần lớn, chi tiêu bình quân thấp, dịch vụ tập trung vào ăn uống và thuyền. Nhiều đơn vị cùng bán một sản phẩm giống nhau dễ dẫn tới cạnh tranh bằng giá, cắt giảm chất lượng và an toàn.
Hướng đi được nhắc nhiều. Các vùng hồ này thường tìm cách nâng chuỗi giá trị bằng lưu trú có chất lượng, du thuyền hay thuyền nghỉ đêm theo chuẩn, gắn với văn hoá của cộng đồng quanh hồ như người Mường, người Dao ở vùng hồ Hòa Bình, hoặc với nghề cá, làng bè.
Bài học cho Tà Đùng. Tà Đùng xa TP.HCM hơn Trị An nhiều, nên không có lợi thế khách ngày từ đô thị lớn, nhưng có thể có khách ngày từ Gia Nghĩa và các vùng lân cận. Điều nên học là đừng để mặt nước biến thành nơi cạnh tranh giá thuyền; nên sớm có chuẩn chung về thuyền và bến.
Hồ nhiều đảo ở vùng núi xa: ảnh đẹp chưa đủ để giữ khách
Hồ Thác Bà, hồ Na Hang là những vùng hồ nhiều đảo ở phía Bắc có cảnh quan được biết tới từ lâu, thường được nhắc tới như những điểm có tiềm năng lớn. Trong các thảo luận về phát triển du lịch ở những vùng như vậy, có mấy vấn đề hay được nêu: khoảng cách tới các thị trường khách lớn, hạ tầng tiếp cận, sản phẩm chưa đa dạng, và khó giữ khách ở lại nhiều ngày khi chỉ có cảnh để ngắm.
Mô thức này cho thấy một điều quan trọng với Tà Đùng: hình ảnh trên mạng xã hội có thể làm một nơi nổi lên nhanh, nhưng không tự biến thành ngành du lịch. Khách xem ảnh và lưu lại thì nhiều, khách thật sự đi xa vài trăm cây số thì ít hơn, và khách đến rồi quay lại lần thứ hai càng ít hơn nữa nếu không có lý do mới. Để có lý do mới, vùng hồ cần sản phẩm theo mùa, theo dịp, có câu chuyện và có người làm nghề.
Tà Đùng có một lợi thế mà nhiều hồ vùng núi xa không có: thị trường khách lớn nhất ở phía Nam đi xe riêng được trong một buổi, và vùng hồ không quá xa các trục quốc lộ nối Tây Nguyên với Đông Nam Bộ. Nhưng lợi thế đó chỉ được khai thác nếu đường chặng cuối, dịch vụ và thông tin đi kịp. Bài học ở đây là không nên coi sự chú ý trên mạng là bằng chứng của nhu cầu bền vững.
Hồ trong vườn quốc gia: giữ cảnh nhờ luật, lớn chậm vì luật
Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên, khác hồ thủy điện, nhưng là ví dụ đáng tham khảo về một vùng hồ nằm trong vườn quốc gia. Ở những nơi như vậy, quy định về rừng đặc dụng hạn chế xây dựng, khai thác và các hoạt động gây tác động. Du lịch phát triển chủ yếu dựa vào homestay của cộng đồng sống trong và quanh vườn, như các bản người Tày quanh hồ, cùng các hoạt động đi thuyền, đi bộ, tìm hiểu văn hoá.
Cái được của mô hình này là cảnh quan được giữ tương đối nguyên vẹn, người dân trực tiếp hưởng lợi từ khách. Cái phải chấp nhận là tăng trưởng chậm, không có khu nghỉ dưỡng lớn, và mọi dự án mới đều phải qua quy trình xem xét kỹ. Với nhà đầu tư muốn quay vòng vốn nhanh, đây không phải môi trường hấp dẫn; với nhà đầu tư nghĩ dài hạn, sự ổn định của cảnh quan lại là tài sản.
Tà Đùng có Vườn quốc gia Tà Đùng bên cạnh vùng hồ, nhưng phần lớn mặt hồ và đất ven hồ không nằm trong vườn. Điều đó có nghĩa là vùng hồ không được bảo vệ mặc định bởi luật rừng đặc dụng như một hồ nằm trọn trong vườn. Muốn giữ cảnh quan, vùng hồ cần quy hoạch và quy tắc xây dựng riêng, cùng sự tự giác của các nhà đầu tư. Đây là khoảng trống mà kinh nghiệm của các vùng hồ trong vườn quốc gia có thể gợi ý cách lấp.
Những tình huống lặp lại ở nhiều vùng hồ và bài học rút ra
Bảng dưới đây gom lại những tình huống thường được nhắc tới khi bàn về du lịch hồ ở Việt Nam, không gắn với một địa phương cụ thể. Mỗi tình huống đi kèm một bài học có thể áp dụng ở Tà Đùng.
| Tình huống thường gặp | Hệ quả | Bài học |
|---|---|---|
| Xây dựng tự phát sát mép nước trước khi có quy hoạch | Cảnh quan bị chia cắt, khó xử lý về sau | Sớm có quy tắc khoảng lùi, chiều cao, màu sắc công trình ven hồ |
| Thuyền chở khách không đồng đều về chất lượng | Sự cố an toàn ảnh hưởng uy tín cả vùng | Chuẩn chung cho thuyền và bến ngay từ đầu |
| Quảng bá bằng ảnh lúc nước đầy | Khách thất vọng mùa nước thấp | Thông tin trung thực theo mùa |
| Dự án lớn được công bố nhưng chậm triển khai | Đất ven hồ bị găm giữ, người làm nhỏ khó tiếp cận | Đối tác nên đánh giá dự án qua tiến độ thực tế, không qua thông báo |
| Sản phẩm chỉ có ngắm cảnh và đi thuyền | Khách ở ngắn, ít quay lại | Đầu tư vào ẩm thực, văn hoá, sự kiện, sản phẩm theo mùa |
| Người địa phương đứng ngoài chuỗi giá trị | Mâu thuẫn, mất thiện cảm, thiếu lao động tại chỗ | Thuê người tại chỗ, mua hàng tại chỗ, có cơ chế cộng đồng |
Phần lớn những tình huống trên không do một bên gây ra, mà do không có cơ chế phối hợp giữa các bên. Đó là lý do bài học được nhắc nhiều nhất trong quản lý điểm đến hiện đại là cần một đầu mối điều phối, dù là ban quản lý, hiệp hội hay một nhóm doanh nghiệp có trách nhiệm.
Tà Đùng có gì khác để không phải lặp lại
So với các vùng hồ đi trước, Tà Đùng có một số điều kiện riêng có thể giúp tránh những vết xe cũ, nếu được tận dụng:
- Còn ở giai đoạn sớm: phần lớn bờ hồ chưa bị xây kín, nên quy tắc xây dựng đặt ra bây giờ vẫn có tác dụng.
- Có kinh nghiệm của người đi trước để học: những vấn đề của các hồ khác đã được báo chí, giới nghiên cứu và các địa phương nói tới nhiều, không phải tự khám phá.
- Có nền nông nghiệp vườn đồi: cà phê, sầu riêng, bơ, mắc ca, hồ tiêu cho phép ghép du lịch với nông nghiệp, đa dạng sản phẩm ngoài mặt hồ.
- Nằm trong tỉnh Lâm Đồng mới: có thể được ghép vào chiến lược quảng bá lớn của một tỉnh có Đà Lạt và biển, thay vì đứng riêng lẻ.
- Có hệ nhiều cửa vào: các trang thông tin, lưu trú, tour, cộng đồng của hệ Tà Đùng có thể cùng nói một thông điệp trung thực về vùng hồ.
Những điều kiện này chỉ là tiềm năng. Chúng trở thành lợi thế thật khi các bên ngồi lại với nhau sớm, trước khi áp lực tăng trưởng làm mọi người chỉ lo phần mình.
Câu hỏi thường gặp
Hồ Tà Đùng có giống hồ Thác Bà hay hồ Na Hang không?
Về cảnh quan, các hồ này cùng là hồ nhân tạo có nhiều đảo đồi nên có nét tương đồng. Khác biệt lớn nằm ở khí hậu cao nguyên của Tà Đùng, nền nông nghiệp vườn đồi xung quanh và thị trường khách chính là các đô thị phía Nam thay vì Hà Nội.
Vì sao không so sánh xếp hạng giữa các vùng hồ?
Mỗi vùng hồ có điều kiện tự nhiên, thị trường khách và cách quản lý khác nhau, và số liệu so sánh đáng tin thường không có sẵn ở cấp từng hồ. Học mô thức chung hữu ích hơn so hơn kém, vừa tránh nhận định thiếu căn cứ vừa giúp rút ra bài học áp dụng được.
Kinh nghiệm quốc tế về du lịch hồ có áp dụng được ở Tà Đùng không?
Một số nguyên lý như quy định khoảng lùi xây dựng, giới hạn thuyền máy, quản lý rác trên mặt nước hay cơ chế cộng đồng hưởng lợi có tính phổ quát. Tuy nhiên, cách làm cụ thể phải điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam, đặc điểm hồ thủy điện và năng lực của địa phương.
Đối tác nên đánh giá một dự án du lịch ven hồ được công bố như thế nào?
Nên nhìn vào tiến độ thực tế, tình trạng pháp lý đã được cấp có thẩm quyền chấp thuận và năng lực của chủ đầu tư, thay vì chỉ dựa vào thông báo hay phối cảnh. Hỏi trực tiếp cơ quan quản lý và tham khảo luật sư trước khi tham gia là cách thận trọng.
Bài học nào quan trọng nhất cho Tà Đùng lúc này?
Có lẽ là đặt quy tắc chung về xây dựng ven hồ và an toàn trên mặt nước càng sớm càng tốt. Hai thứ này khó sửa nhất khi đã để trôi, và ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của cả vùng chứ không riêng một đơn vị nào.